Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người.[77] Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000).[51] Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.[78]Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp.[73] Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Để nhận được tăng cường viện trợ từ phía Liên Xô, từ 27 tháng 3 năm 1979, Việt Nam quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh.[56] Về phía Bắc Kinh, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế.[79]
TẤM THIỆP CƯỚI THẤM MÁU ĐÀO
http://bvbong.blogspot.com/2013/02/tam-thiep-cuoi-tham-mau-ao.html
http://bvbong.blogspot.com/2013/02/tam-thiep-cuoi-tham-mau-ao.html
Quân xâm lược Trung Quốc đã đánh vào thành phố Lào Cai! Đó là 10 giờ 15 phút, ngày 17-2-1979. Cùng lúc đó tiếng đại bác đã rít trên đầu, tiếng xe tăng đã vọng tới và tiếng nổ ầm ầm, sôi lên bốn phía.
…
Ông cho tôi biết, bọn Trung Quốc bắc cầu phao ở Quang Kim cho xe tăng vượt sông Hồng, chia thành ba mũi, một mũi đánh vào Đông Bắc thị xã, theo đường đi Hà Nội, một mũi đánh vào Bản Chuẩn, Bản Phiệt, một mũi đánh phố Lu, bến Đền…Người dân thi xã Lào Cai ba mươi năm không nghe tiếng bom đạn, giờ hoảng loạn bỏ lại tất cả của cải, bồng bế nhau sơ tán. Dòng người gồng gánh, nứu kéo nhau, rời khỏi thị xã chạy về Cam Đường. Tiếng kêu la, than khóc tuyệt vọng chìm trong tiếng bom đạn.
…
Mỗi khi nghe tiếng bom đạn rít, những người cha người mẹ ấn con xuống rãnh nước ở vệ đường, nằm đè lên che chắn cho con. Những bà cụ không theo kịp, chỉ biết nằm úp mặt xuống đường lấy chiếc nón, chiếc khăn che đầu. Người bị thương giãy dụa rên la không kịp băng bó. Xác người chết chồng lên nhau, máu chảy thành suối trên dốc Đỏ , từ cầu số 4 đến Cam Đường.Tôi không nghĩ là trong cùng một ngày hôm ấy, ngày 17-2-1979, bọn xâm lược Trung Quốc đã cướp mất của tôi một người bạn đồng nghiệp, đồng hương thân thiết và cướp luôn người vợ sắp cưới của tôi! Nhưng đó là sự thật. Khi quân Trung Quốc rút khỏi Lào Cai, tôi mới được tin Xuyến cùng bố mẹ bị bọn lính Trung Quốc giết hại ở cầu Chui ngay trong đêm 17-2. Xuyến vẫn mặc chiếc áo dài màu hoa đào mà Xuyến thường mặc khi lên lớp giảng bài, trên vai vẫn đeo chiếc túi đựng những chiếc thiệp cưới của chúng tôi. Bà con đã trao cho tôi những tấm thiệp mời nhuộm đỏ máu vợ tôi. Tôi cầm những tấm thiệp nhuộm máu Xuyến ấp vào ngực muốn tìm lại hơi ấm của em. Tôi muốn đây chỉ là một cơn ác mộng, cơn ác mộng sẽ tan, ngày chủ nhật chúng tôi sẽ tổ chức đám cưới, tôi sẽ sống bên Xuyến trên thị xã Lào Cai này suốt đời, nhưng cơn ác mộng đến bây giờ vẫn chưa tan, nó đeo đuổi suốt đời tôi!Người dân Lào Cai gọi bọn lính Trung Quốc là thổ phỉ, gọi cuộc xâm lược chớp nhoáng của chúng là trận “B52 chân đất”. Chúng cướp hết, phá hết, biến thị xã Lào Cai thành một đống gạch vụn. Tại xã Hưng Đạo, trước khi rút, chúng hãm hiếp 10 cô gái trẻ rồi chặt khúc vứt xuống giếng. Cũng tại đây, chúng giết 13 phụ nữ, trong đó 7 chị đang mang thai, và 20 em thiếu nhi.

Mai Thanh Hải – "GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG" VÀ BÀI VIẾT KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG
http://maithanhhaiddk.blogspot.no/2012/02/gui-em-o-cuoi-song-hong-va-bai-viet.html
http://maithanhhaiddk.blogspot.no/2012/02/gui-em-o-cuoi-song-hong-va-bai-viet.html
Khi đã "phân loại" hàng trăm lá thư, ông ngỡ ngàng bởi hầu hết bộ đội ta đều quê ở các tỉnh nằm dọc theo bờ sông Hồng (Yên Bái, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam…) và đa số thư đều gửi cho vợ, người yêu ở những địa phương nằm dọc sông Hồng.Ngỡ ngàng và liên hệ đến tình hình chiến sự đầu thắng 2/1979, cảm nhận cái giá rét – gió mùa Đông Bắc hiện tại, nhớ màu nước sông Hồng quanh năm đỏ rực phù sa và tháng 2 đúng mùa con nước… ông quặn lòng nhớ tới vợ con ở Duy Tiên, Hà Nam cũng chung tâm trạng như hàng vạn, hàng triệu người vợ – người mẹ – người yêu khác, đang mong ngóng, lo lắng tin của chồng, con, người yêu nơi biên g…Xúc động, Dương Soái ngồi bệt xuống sân ga Phố Lu viết bài thơ "Gửi em ở cuối sông Hồng" chỉ trong đúng 2 tiếng đồng hồ. "Vừa viết, nước mắt tôi vừa chảy ra giàn giụa!" – Ông đỏ hoe mắt và ngước mắt nhìn cây đào núi nở hồng rực ngoài cửa sổ.
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét