Bài phân tích ở đây, dựa vào thu thập các nguồn thông tin, có kiểm chứng về độ tin cậy hy vọng sẽ phác họa phần nào “bức tranh nợ” của Việt Nam thời gian gần đây.
Nợ nước ngoài
Năm 2016, nợ nước ngoài của Việt Nam lên tới 87 tỉ đô la Mỹ (tương đương 48% GDP) và ước khoảng 100 tỉ đô la vào năm 2017. Lãi và nợ gốc phải trả hơn 8 tỉ đô la Mỹ một năm.
Điều trên thực ra chưa đáng lo vì phần lớn là nợ ưu đãi (hiện nay là 40% tổng số nợ nước ngoài, đã giảm so với mức trước đây là 70%)(1). Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là tỷ lệ tăng nợ hàng năm rất cao, trung bình tăng 17,5% một năm, đưa nợ theo tỷ lệ GDP từ 26% năm 2008 lên gần 50% năm 2016.
Không những thế, do Việt Nam có thu nhập đầu người trung bình vượt ngưỡng chậm phát triển, nên kể từ tháng 7-2017, các tổ chức quốc tế đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước hưởng ưu đãi với lãi suất 0% hay rất thấp và với thời gian trả dài 35-40 năm. Vì vậy, từ nay Việt Nam sẽ phải vay mượn với lãi suất thị trường và thời gian phải trả ngắn hơn. Năm 2016 tỷ lệ tăng nợ có giảm xuống nhưng cũng rất cao, ở mức 11,7% (xem biểu đồ). Năm 2017 nợ nước ngoài vay thêm tăng đột biến, thêm 14,6 tỉ đô la Mỹ. Việc trả nợ sẽ khó hơn khi lãi suất trên thị trường thế giới đang trong quá trình tăng, nhất là nợ nước ngoài chủ yếu là nợ của nhà nước (chiếm 66% nợ dài hạn).
Nợ công
Nợ công nói lên khả năng trả nợ của khu vực công, có liên quan đến Chính phủ. Nợ công bao gồm nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc sở hữu của Chính phủ.
Dù Chính phủ Việt Nam cho rằng nợ DNNN là trách nhiệm của DNNN nhưng rõ ràng khi DNNN không trả được nợ thì chủ nợ có thể kiện chính quyền là chủ sở hữu để đòi nợ và việc này đã xảy ra, cho nên không thể không theo dõi nợ công.
Nợ công của Việt Nam vào năm 2016 lên tới 8,6 triệu tỉ đồng, bằng 383 tỉ đô la Mỹ và bằng 3,3 lần GDP(2). Ngay cả nợ chính phủ cũng đã lên đến 53,6% GDP năm 2016 và Bộ Tài chính ước tính là 61,3% GDP năm 2017(3), vượt mức trần được Quốc hội phê duyệt là 50%(4).
Nợ của khu vực phi tài chính

Khu vực phi tài chính bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính, Chính phủ và hộ gia đình. Khu vực phi tài chính không bao gồm ngân hàng và doanh nghiệp tài chính như bảo hiểm, quỹ hưu trí... do đó loại trừ các khoản nợ của doanh nghiệp tài chính. Hai khu vực này cần phân tích riêng.
Trong khu vực phi tài chính, Chính phủ dựa vào thuế và hộ gia đình dựa vào thu nhập gia đình. Khu vực doanh nghiệp phi tài chính hoạt động chủ yếu dựa vào vốn tự có, và nếu vay phải tính toán kỹ lưỡng để thu nhập thuần từ kinh doanh lớn hơn trước khi tăng nợ, sau khi trả lãi. Nếu doanh nghiệp phi tài chính mất khả năng trả nợ thì khu vực tài chính, chủ yếu là ngân hàng và công ty bảo hiểm tài chính, sẽ rơi vào phá sản như đã xảy ra ở Mỹ và nhiều nước năm 2008.
Khu vực tài chính như ngân hàng chủ yếu là thu hút tiền từ dân chúng và doanh nghiệp rồi cho mượn lại cho nên nợ chiếm đến trên 90% giá trị tài sản, hay nói khác đi đòn bẫy tài chính, tức là nợ/vốn tự có, có thể lên đến 9 hay hơn.
Nhà đầu tư và ngân hàng khi cho vay sẽ đánh giá doanh nghiệp trên cơ sở tỷ lệ nợ trên vốn tự có. Ngân hàng cũng bị đánh giá như thế nhưng đòn bẫy của họ rất cao so với doanh nghiệp phi tài chính, mà thường thì họ sẵn sàng cho càng cao càng tốt vì đó là tiền của người khác, cho nên các nước đều có luật yêu cầu tỷ lệ vốn tự có tối thiểu so với nợ cho vay trong mỗi ngân hàng.
Để có thể so sánh với các nước, người viết đã tính tỷ lệ nợ trên GDP của khu vực phi tài chính của Việt Nam. Số liệu thống kê các nước trên thế giới là từ Ngân hàng bù trừ thanh toán quốc tế (BIS). Số liệu thống kê về nợ của các loại doanh nghiệp của Việt Nam dùng trong bài này dựa hoàn toàn vào kết quả điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê (TCTK). Số liệu về nợ của Chính phủ Việt Nam (không bao gồm bảo lãnh) là từ Bộ Tài chính. Riêng số liệu nợ của hộ gia đình cho chi tiêu dùng hoặc mua nhà là phi chính thức nên phải tính dựa vào số liệu trên báo chí(5).
Kết quả so sánh với các nước cho thấy tỷ lệ nợ của khu vực phi tài chính trên GDP của Việt Nam thuộc loại cao nhất thế giới.
Bảng 1 cho thấy mức nợ của nền kinh tế Việt Nam nhìn từ khu vực phi tài chính năm 2016 là 338% GDP vượt xa các nước đang phát triển, gấp 5 lần Indonesia, cao hơn Malaysia 76%, cao hơn Trung Quốc 32%.
Do khủng hoảng tài chính khắp thế giới năm 2007-2008 cho đến nay, chính phủ các nước phát triển đã phải đẩy mạnh vay mượn nhằm cứu doanh nghiệp, do đó ở nhiều nước thuộc khối OECD tỷ lệ nợ tăng cao. Tỷ lệ nợ quốc gia trên GDP đều trên 100%, và những nước bị khó khăn nghiêm trọng như Hy Lạp có tỷ lệ 188%, Bồ Đào Nha 144%, Mỹ 104% GDP. Chính vì thế tỷ lệ nợ của khu vực phi tài chính của các nước này đều rất cao như trong bảng 1 đã nêu.
Việt Nam nợ cao vì nhiều lý do, trong đó phải kể đến là vì muốn tạo quả đấm thép cho khu vực DNNN, vì không thật sự có chiến lược làm chủ công nghệ cơ bản trong mọi hoạt động sản xuất quan trọng và có giá trị lớn trong nền kinh tế, lại thêm tình trạng tham nhũng tràn lan…
Trong khoản nợ của khu vực phi tài chính với tổng số nợ năm 2016 là 15,2 triệu tỉ đồng (681 tỉ đô la Mỹ), chiếm 338% GDP, được ước tính phân chia như sau: 12,8% (87 tỉ đô la) là nợ nước ngoài; 41,4% (281,6 tỉ đô la) là nợ tín dụng; phần còn lại là nợ trái phiếu, nợ lẫn nhau và nợ chưa đòi được.
Tăng trưởng tín dụng hàng năm sau một vài năm tăng thấp đã thấy dấu hiệu lên cao hơn để đạt tốc độ tăng GDP 7%. Một dấu hiệu đáng lo là giá sẽ tăng ở mức trên 4% trong năm nay, và vấn đề là khi giá tăng, lãi suất tăng trên thị trường thế giới cùng với mức tăng trưởng tín dụng cao thì một số khoản nợ sẽ gây ra một ảnh hưởng không nhỏ.
Một cách nhìn khác về nợ doanh nghiệp
Ở Việt Nam, tỷ lệ nợ so với vốn tự có (tức chỉ số đòn bẫy tài chính) của doanh nghiệp phi tài chính rất cao, lên đến 1,6 (tức là 160%). Doanh nghiệp như thế chủ yếu kinh doanh bằng tiền của người khác. Tỷ lệ này của các DNNN còn tệ hơn, ví dụ ở ngành khai thác khoáng sản (5 lần), dệt (5 lần) xây dựng (3 lần), dịch vụ tàu thủy (16 lần), dịch vụ máy bay (gần 5 lần). Đây chính là nguồn gốc của phá sản nếu không được bơm tín dụng ngân hàng.
Tóm lại, hệ quả về khả năng trả nợ trong tương lai là khó lường khi lãi suất trên thị trường thế giới đã tăng trở lại cũng như lạm phát có khả năng vượt 4% trong năm 2018.
(1) http://datatopics.worldbank.org/debt/ids/country/VNM.
(2) Con số nợ dựa trên thống kê chính thức cho năm 2016 là 383 tỉ đô la Mỹ, thấp hơn con số 431 tỉ mà tác giả ước tính trước đây trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/156693/No-tra-no-va-khung-hoang.html. Do có thông tin đầy đủ hơn, nên con số tính lại này đã loại được con số trùng lặp liên quan đến nợ chính phủ bảo lãnh.
(3) http://cafef.vn/bo-tai-chinh-no-cong-viet-nam-nam-2017-o-muc-613-gdp-20180108135548399.chn.
(4) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-chinh-nha-nuoc/Nghi-quyet-25-2016-QH14-ke-hoach-tai-chinh-5-nam-quoc-gia-giai-doan-2016-2020-332843.aspx.
(5) Coi: https://vietstock.vn/2017/07/buc-tranh-tin-dung-tieu-dung-757-549742.htm
(6) https://stats.bis.org/statx/srs/table/f1.1.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét