Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN VIỆT - TRUNG NĂM 1979

http://nghiencuuquocte.org/2015/11/04/nhin-lai-cuoc-chien-viet-trung-nam-1979/

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI CỐNG TRUNG QUỐC 1979 (II)

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979: Lạng Sơn đau thương

13:00 - 17/02/2018
Trường Sơn

Trên hướng Lạng Sơn, quân Trung Quốc sử dụng 8 sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn 43, 50, 54 và 55 cùng 196 xe tăng, thiết giáp của 2 trung đoàn xe tăng thuộc Quân đoàn 55 và Quân khu Quảng Châu, chưa kể 80 xe tăng của Quân đoàn 43.

Hướng tiến công chủ yếu của địch nhằm mục tiêu vào Thị xã Lạng Sơn, đồng thời triển khai các mũi vu hồi đánh vào Lộc Bình, Tràng Định, Đình Lập nhằm thu hút và chia cắt lực lượng ta.


Trên hướng Tràng Định, quân Trung Quốc sử dụng Sư đoàn 129 Quân đoàn 43 tiến công các điểm chốt của ở Pò Mã, Pò Pùn, Lũng Xá, Khau Mười, Bản Tang… Các đợt tiến công của Trung Quốc bị Trung đoàn 199 bộ đội Lạng Sơn, Tiểu đoàn đặc công 27, Tiểu đoàn 6 Tràng Định, Đồn biên phòng Pò Mã, Bình Nghi… và dân quân Đội Cấn, Tri Phương, Quốc Khánh đánh bại trong 1 tuần chiến đấu đầu tiên. Tuy nhiên, ngày 24/2, địch sử dụng 1 trung đoàn từ Thạch An (Cao Bằng) theo Đường số 4 bất ngờ đánh vào sau lưng Trung đoàn 199. Do không có phương án đề phòng từ trước, thế trận phòng ngự của Trung đoàn 199 nhanh chóng tan vỡ. Ngày 25/2, quân Trung Quốc chiếm được Thị trấn Thất Khê.

Trên hướng Lộc Bình, Sư đoàn 127 và 128 thuộc Quân đoàn 43 Trung Quốc có xe tăng hỗ trợ tiến công các điểm chốt của Trung đoàn 123 bộ đội Lạng Sơn, Tiểu đoàn 9 Lộc Bình. Đồn biên phòng Chi Ma cùng dân quân Tú Mịch, Yên Khoái… trên các điểm cao 540, 468, 557 (Chi Ma), khu vực Bản Thín, Bản Lan, điểm cao 412, 481, 402 (Tú Mịch)... Lực lượng vũ trang Việt Nam tổ chức phòng ngự quyết liệt, đồng thời có thời điểm tổ chức phản kích buộc địch phải co cụm lại ở phía nam Núi Mẫu Sơn. Tuy nhiên trước sức áp đảo về binh hỏa lực của địch, ngày 22/2, Trung đoàn 123 phải bỏ thị trấn rút lên Núi Mẫu Sơn tiến hành chiến tranh du kích. Đến ngày 28/2 quân Trung Quốc hoàn toàn làm chủ Thị trấn Lộc Bình.

Trên hướng Đình Lập, quân Trung Quốc không tổ chức đánh lớn ngay trong ngày 17/2 mà chỉ sử dụng một bộ phận dân binh và địa phương quân tập kích lấn chiếm một số điểm chốt của Sư đoàn 338, Tiểu đoàn 131 Đình Lập, Đồn biên phòng Bắc Xa, Chi Lăng... Trước tình hình đó, Quân khu 1 quyết định điều phần lớn lực lượng Sư đoàn 338 về Chi Ma, Tú Mịch, Lộc Bình chặn địch.

Đồng thời để chia lửa cho Sư đoàn 3 ở Đồng Đăng, từ ngày 22/2 đến 26/2 Sư đoàn 338 đã chủ động dùng Trung đoàn 460 trên hướng Bản Chắt tiến công vào sâu 10km trong hậu phương của địch, loại khỏi vòng chiến 1 tiểu đoàn Trung Quốc và phá hủy toàn bộ khu doanh trại, hậu cần của chúng. Ngoài ra sư đoàn còn cho công binh luồn sâu 20km vào sau lưng địch đánh sập 2 cầu và dùng một bộ phận tinh nhuệ tập kích Sân bay Ninh Minh (Quảng Tây).

Trên hướng chủ yếu, Sư đoàn 163 và 165 thuộc Quân đoàn 55 Trung Quốc chia làm nhiều mũi đồng loạt đánh vào các điểm chốt của Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 và các đơn vị địa phương ở Đồng Đăng và Tân Thanh (Văn Lãng), trong khi đó trên hướng Cao Lộc, Sư đoàn 164 Quân đoàn 55 Trung Quốc cũng tấn công trận địa Tiểu đoàn 8 Cao Lộc ở khu vực Bản Xâm, Lục Quyên lập bàn đạp tiến công. Cuộc tiến công trên hướng Văn Lãng bị một bộ phận của Trung đoàn 12 Sư đoàn 3, Tiểu đoàn 7 Văn Lãng, Đồn biên phòng Tân Thanh, Na Hình... đẩy lui ở Nà Nôi, Bản Thấu (Tân Yên), Thụy Hùng… buộc phía Trung Quốc phải tạm dừng tiến công ngày 18/2.

Đặc biệt, tại hướng chủ yếu Đồng Đăng, nhờ vào ưu thế về binh hỏa lực và giữ được bất ngờ, ngay trong sáng 17/2 quân Trung Quốc đã chiếm được hầu hết các trận địa phòng ngự chủ yếu của ta ở Đồng Đăng, cắt đứt Đường 1A và 1B. Tuy nhiên cuộc chiến đấu ác liệt vẫn diễn ra liên tục từ ngày 17/2 đến 20/2 xung quanh thị trấn Đồng Đăng (cách thị xã Lạng Sơn 14km) và ngã ba Tam Lung (cách thị xã Lạng Sơn 7km) với các điểm nóng ở khu vực cửa khẩu Hữu Nghị và điểm cao 402, cụm chốt Thâm Mô - Pháo đài - điểm cao 339, ga Đồng Đăng, khu đồi Chậu Cảnh, điểm cao Khôn Làng….

Mặc dù bị tổn thất, các đơn vị hỗn hợp của Sư đoàn 3, Trung đoàn 12 Thanh Xuyên, Tiểu đoàn 11 bộ đội địa phương thị xã, Tiểu đoàn 1 cảnh sát cơ động, Đại đội 5 công an vũ trang, Đồn biên phòng Hữu Nghị Quan... cùng dân quân tự vệ tại chỗ đã kiên cường bám trụ trận địa, đồng thời tổ chức tiến công giành giật lại các vị trí bị chiếm đóng, gây cho đối phương những thiệt hại hết sức nặng nề.

Bị giam chân suốt nhiều ngày, đến ngày 22/2, quân Trung Quốc tăng cường lực lượng mở một đợt tiến công mới vào Tân Yên, Đồng Đăng. Nhờ ưu thế vượt trội về binh hỏa lực, sau hàng loạt trận đánh liên tục, đến ngày 23/2/1979, địch chiếm được khu vực Tân Yên, Đồng Đăng. Các lực lượng vũ trang Việt Nam rút về phía sau lập phòng tuyến mới.

Sư đoàn 3 phản kích địch ở ngã ba Tam Lung, Lạng Sơn

Ngày 24/2/1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Mặt trận Lạng Sơn, Thiếu tướng Hoàng Đan, Phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao được điều về giữ chức Phó tư lệnh Quân khu kiêm Tư lệnh Mặt trận. Đồng thời, hai sư đoàn chủ lực cùng nhiều tiểu đoàn bộ binh, binh chủng và dân quân tự vệ ở tuyến sau được điều động lên chi viện cho tiền tuyến.

Từ ngày 23/2, sau khi tiến hành sơ tán các cơ quan và nhân dân trong thị xã Lạng Sơn, đội hình phòng thủ của ta được điều chỉnh lại: Sư đoàn bộ binh 3 và Trung đoàn 197 Bắc Thái đảm nhiệm phòng ngự khu vực đường 1A, 1B phía nam Đồng Đăng và trục đường từ Cao Lộc về thị xã; Sư đoàn bộ binh 327, Trung đoàn xe tăng 407 và các đơn vị của BCHQS tỉnh đảm nhiệm khu vực phía bắc và đông thị xã; Trung đoàn phòng không 272 bố trí ở cả phía bắc và nam thị xã. Sư đoàn bộ binh 337 lên tăng cường được bố trí ở phía nam Cầu Khánh Khê.

Từ 24/2 đến 26/2, phía Trung Quốc đưa lực lượng dự bị vào tham chiến và chuẩn bị mở một đợt tiến công mới nhằm đánh chiếm Thị xã Lạng Sơn. Từ Đồng Đăng, Sư đoàn 163 Quân đoàn 55 địch tiến công dọc theo đường 1A, Sư đoàn 165 Quân đoàn 55 địch tiến công xuống phía nam Đồng Đăng và cho một bộ phận đánh xuống khu vực Cầu Khánh Khê phía đông Đường 1B trong khi Sư đoàn 164 Quân đoàn 55 địch từ Cao Lộc theo các trục đường Bản Xâm, Thanh Lòa tiến về thị xã. Sư đoàn 161 Quân đoàn 54 xuất phát từ Tân Thanh sử dụng một bộ phận theo đường số 4 tiến công Na Sầm, một bộ phận thọc xuống khu vực Cầu Khánh Khê phía tây Đường 1B.

Ngày 27/2/1979, cuộc tiến công quy mô lớn của địch bắt đầu. Trong 3 ngày 27/2, 28/2 và 1/3, những trận đánh phòng ngự, tập kích và phản kích dữ dội diễn ra trên các trục đường dẫn vào thị xã, khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh, Hoàng Đồng, Kỳ Lừa… Ở phía sau, Sư đoàn 337 lên tăng cường từ chiều 25/2 cũng bước vào chiến đấu với mũi vu hồi chiến dịch của địch trên hướng Cầu Khánh Khê, Đường 1B. Chiến sự diễn ra vô cùng căng thẳng, có những nơi như điểm cao 500, 607, 649 (đường 1B), 449, 473 (Cao Lộc)… hai bên liên tục giành đi giật lại nhiều lần.

Mặc dù các lực lượng vũ trang Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, đến hết ngày 28/2, các mũi tiến công của địch đã chiếm được các điểm chốt chủ yếu, áp sát bờ bắc Sông Kỳ Cùng, chia cắt các tuyến phòng ngự của ta và bao vây, cô lập Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 và Trung đoàn 197 Bắc Thái ở Đường 1B.

Từ ngày 1/3, phối hợp với Sư đoàn 163 và 164 trên hướng bắc và tây nhằm đánh chiếm Thị xã Lạng Sơn, Sư đoàn 127 Quân đoàn 43 địch sau khi chiếm được Lộc Bình cũng tổ chức một mũi tiến công từ phía nam theo Đường số 4 đánh vào khu vực Mai Pha. Đồng thời trên hướng Lộc Bình và Đình Lập địch cũng sử dụng lực lượng của Sư đoàn 128 Quân đoàn 43 và Sư đoàn 148 Quân đoàn 50 gia tăng áp lực lên các trận địa của Sư đoàn 338 nhằm ngăn cản chi viện của ta.

Ngày 2/3, Quân đoàn 5 trực thuộc Quân khu 1 do Thiếu tướng Hoàng Đan làm tư lệnh và Đại tá Phí Triệu Hàm làm chính ủy được thành lập. Các sư đoàn bộ binh đang chiến đấu bảo vệ Lạng Sơn (3, 327, 337, 338) cùng các trung đoàn binh chủng của Quân khu 1 được đặt dưới quyền chỉ huy chung của Bộ tư lệnh Quân đoàn.

Cùng ngày hôm đó, quân Trung Quốc chiếm được Kỳ Lừa, Tam Thanh, Nhị Thanh và vào được khu vực phía bắc của Thị xã Lạng Sơn. Các đơn vị của ta rút về phía nam Sông Kỳ Cùng. Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 quyết định điều Sư đoàn 3 về làm lực lượng dự bị, riêng Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 tiếp tục bám trụ trên đường 1B đánh vào sau lưng địch, phối hợp với Sư đoàn 337 kiên quyết chốt chặn tuyến giao thông này, không cho địch vượt qua Cầu Khánh Khê tiến sang thị xã và Huyện Văn Quan.

Sáng 4/3, đối phương tiếp tục tung thêm lực lượng dự bị của Sư đoàn 148 Quân đoàn 50 vào tiến công. Đến chiều 4/3, trên hướng đông-đông nam quân Trung Quốc chiếm được khu vực nam Sông Kỳ Cùng, Sân bay Mai Pha, các khu phố còn lại của Thị xã Lạng Sơn và làm chủ các điểm cao phía nam thị xã vào sáng 5/3.

Tối 4/3, Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 thông qua và bắt đầu triển khai phương án mở chiến dịch phản công. Cùng thời điểm này lực lượng tăng cường của Quân đoàn 1 cũng đã hoàn tất triển khai vào vị trí chiến đấu trên tuyến Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên phía nam thị xã. Trung đoàn pháo binh 204 với 36 dàn hỏa tiễn bắn loạt 40 nòng BM-21 đã tập kết và lấy phần tử sẵn sàng khai hỏa. Ngày 5-3, giữa lúc các sư đoàn trên mặt trận đang ráo riết chuẩn bị thì trưa hôm đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam và ngày hôm sau quân Trung Quốc rút về phía bắc Sông Kỳ Cùng. Bộ Quốc phòng quyết định cho dừng chiến dịch phản công.

Trên hướng chính, quân Trung Quốc rút khỏi Thị xã Lạng Sơn và Huyện Cao Lộc ngày 9-3 và rút khỏi Đồng Đăng, Tân Thanh ngày 15-3. Trên hướng Lộc Bình và Đình Lập, Sư đoàn 338 tiếp tục áp sát tạo áp lực, buộc quân Trung Quốc rút khỏi khu vực này ngày 13-3. Riêng tại Tràng Định do không có lực lượng truy kích, quân Trung Quốc tiếp tục tự do cướp phá cho đến ngày 20-3 mới rút về bên kia biên giới.

Theo công bố chính thức, Lạng Sơn đã loại khỏi vòng chiến 19.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp, 52 xe quân sự. Để lập nên chiến công này, quân dân Lạng Sơn cũng đã phải chịu hy sinh to lớn: Sư đoàn 3 hy sinh và bị thương gần 1.500 cán bộ chiến sĩ; Sư đoàn 337 hy sinh 650 cán bộ chiến sĩ, Sư đoàn 338 hy sinh 260 cán bộ chiến sĩ, Trung đoàn 197 hy sinh và bị thương 168 cán bộ chiến sĩ… 20 cá nhân và 14 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Quân đoàn 5 được mang danh hiệu “Binh đoàn Chi Lăng”, Sư đoàn 337 được tặng danh hiệu “Sư đoàn Khánh Khê”.

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI CỐNG TRUNG QUỐC 1979 (I)

Chiến tranh biên giới 1979: Khi bộ đội địa phương VN đối đầu quân chính quy TQ

17/02/2018, 08:15 (GMT+7)
Đương đầu với đạo quân xâm lược hùng hậu của Trung Quốc là các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới Việt Nam.
Cuộc xâm lược được Bắc Kinh được tiến hành trên hai hướng. Cánh đông do Thượng tướng Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou), Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu chỉ huy có 18 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 3 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị dân binh. Hỗ trợ cho hướng này là 6 trung đoàn xe tăng, 2 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Cánh quân này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh của Việt Nam, trong đó trọng điểm là Cao Bằng và Lạng Sơn.
Cánh tây do Thượng tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), Tư lệnh Đại quân khu Vũ Hán chỉ huy có 10 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 4 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị dân binh. Hỗ trợ cho hướng này là 1 trung đoàn xe tăng, 1 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Lực lượng này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai), Lai Châu của Việt Nam, trong đó trọng điểm là Hoàng Liên Sơn.
 Lính Trung Quốc cùng sự yểm trợ của xe tăng tấn công vào lãnh thổ Việt Nam. (Ảnh tư liệu)
Đương đầu với đạo quân xâm lược hùng hậu của Trung Quốc là các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Đóng góp vào thế trận phòng thủ chung trên địa bàn 6 tỉnh biên giới còn có các đơn vị binh chủng (pháo cối, ĐKZ, cao xạ, trinh sát, công binh, thông tin, quân y, vận tải) của các BCHQS tỉnh và huyện, thị; lực lượng công an, cảnh sát và đông đảo dân quân, tự vệ ở khắp các làng bản, huyện thị, nông lâm trường và nhà máy xí nghiệp... được tổ chức ở quy mô từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn.
Diễn biến đến ngày 17/2/1979
Từ tháng 1-1979, đối phương bắt đầu ráo riết đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang dọc biên giới. Chỉ trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, phía Trung Quốc đã gây ra 230 vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn, khiêu khích cho tới phục kích, giết hại, bắt cóc người đưa về Trung Quốc, tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của công an, dân quân Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất của nhân dân.
Theo số liệu thống kê của lực lượng biên phòng Việt Nam, trong những vụ xâm phạm này, lính Trung Quốc đã giết hại trên 40 dân thường và chiến sĩ, làm bị thương hàng trăm người và bắt đi hơn 20 người. Đặc biệt có những vụ diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 5km như vụ tập kích trạm gác của dân quân ở Bản Lầu (Hoàng Liên Sơn) ngày 14/1, có những vụ quy mô lớn như huy động 1 tiểu đoàn chính quy tấn công bình độ 400 ở Thanh Lòa, Cao Lộc (Lạng Sơn) ngày 10/2, có những vụ pháo kích lớn đã sử dụng cả tới pháo 85mm, súng cối, ĐKZ... Cùng với đó là hàng chục lần tốp máy bay và tàu thuyền xâm phạm vùng trời, vùng biển của Việt Nam.
Rạng sáng ngày 17/2/1979, pháo binh Trung Quốc bất ngờ khai hỏa bắn phá các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam, mở màn cuộc xâm lược. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân Việt Nam chính thức bắt đầu.
Trên mặt trận Lai Châu
Trên mặt trận Lai Châu, phía Trung Quốc sử dụng Sư đoàn bộ binh 31 Quân đoàn 11 và Sư đoàn bộ binh 33 địa phương quân Vân Nam, tổ chức thành 2 mũi tiến công. Mũi chủ công đảm nhiệm tiến công Ma Ly Pho, Pa Nậm Cúm vào ngã ba Phong Thổ. Mũi thứ hai tiến công từ Huổi Luông, Pa Tần (Sìn Hồ). Ngoài ra địch còn sử dụng một lực lượng đánh chiếm khu vực bắc Dào San và Mù San (Phong Thổ).
Trước tình hình này, Bộ tư lệnh Quân khu 2 điều động lực lượng của Trung đoàn 98 Sư đoàn 316 và Trung đoàn 46 Sư đoàn 326 tăng cường cho khu vực phòng thủ Pa Tần. Tại đây chiến sự diễn ra ác liệt, hai bên giành giật từng điểm chốt như ở cao điểm 805, 551 hay 553 bắc Pa Tần. Sau nhiều đợt tiến công liên tục, ngày 3-3, quân Trung Quốc chiếm được Thị trấn Phong Thổ, Pa Tần và đến 5/3 chiếm được Dào San. Đến 10/3 trên mặt trận Lai Châu địch rút về bên kia biên giới.
Trên mặt trận Quảng Ninh
Trên hướng Quảng Ninh, ngày 17/2/1979, quân Trung Quốc huy động một bộ phận địa phương quân, biên phòng, dân binh của tỉnh Quảng Tây tiến đánh một số trận địa phòng ngự do các đơn vị thuộc Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Trung đoàn 43 và 244 bộ đội địa phương, Đồn biên phòng Pò Hèn… đảm nhiệm ở khu vực Hoành Mô, Đồng Văn (Bình Liêu), Thán Phún (Hải Ninh) và pháo kích vào Thị xã Móng Cái. Trong các trận tiến công này địch chiếm được bình độ 300, Đồn Pò Hèn và điểm cao 1050 Cao Ba Lanh nhưng đến chiều 19/2 ta phản kích khôi phục lại trận địa 1050.
Ngày 26/2, địch mở đợt tiến công mới nhằm vào khu vực chốt của Trung đoàn 288 Sư đoàn 325B ở điểm cao 1050, 585, đồi Cây Xanh, đồi Không Tên… và ngày 28/2 đánh vào trận địa Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B ở điểm cao 500, 600, 781, đồi Khẩu Hiệu… Các đợt tiến công này đều bị đánh bại.
Ngày 28/2, Tư lệnh Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Quảng Ninh do Thiếu tướng Nguyễn Sùng Lãm mới được cử về làm Phó tư lệnh quân khu đứng đầu.
Ngày 1/3, quân Trung Quốc đồng loạt tiến công vào các điểm tựa của Trung đoàn 41 và 288 Sư đoàn 325B, Tiểu đoàn 130 Bình Liêu, Đồn biên phòng Hoành Mô, Đồng Văn, Móng Cái và Đại đội 6 công an vũ trang… chiếm được đồn Hoành Mô và một phần điểm cao 600 và 781 nhưng bị chặn lại trên các hướng khác.
Ngày 4/3, địch tập trung đánh chiếm điểm cao 1050 nhưng một lần nữa bị đẩy lui với thiệt hại nặng nề. Cũng trong ngày hôm đó Trung đoàn 41 Sư đoàn 325B phản kích lấy lại điểm cao 600 và 781. Đến đây, mọi nỗ lực tấn công vào tuyến biên giới Quảng Ninh của Trung Quốc đã chính thức bị bẻ gãy.
Ngày 5/3, Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Chiến sự trên hướng Quảng Ninh tạm thời chấm dứt.  
  
Trên mặt trận Hà Tuyên
Hà Tuyên là hướng phối hợp, địch không tiến công lớn mà chỉ sử dụng Trung đoàn biên phòng 12 và dân binh Tỉnh Vân Nam đánh vào các chốt của ta ở Xã Thượng Phùng, Lũng Làn (Mèo Vạc), Lũng Cú, Ma Ly (Đồng Văn), Nghĩa Thuận (Quản Bạ), Thanh Thủy, Lao Chải (Vị Xuyên), Bản Păng, Bản Máy (Xìn Mần), Na Khê (Yên Minh).
Tại đây bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ đã phối hợp chặn địch. Ngoài ra lực lượng vũ trang Hà Tuyên còn chủ động tổ chức một số trận đánh ngay vào vị trí xuất phát tiến công của đối phương như trận đánh ngày 23/2 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122 vào điểm cao 1875 hoặc trận ngày 25/2 của Tiểu đoàn 1 Mèo Vạc tập kích địch đột nhập Xã Thượng Phùng và tập kích Đồn Hoà Bình. 
Từ 4/3, để hỗ trợ cho hai cánh quân trên hướng Hoàng Liên Sơn và Lai Châu, ở Hà Tuyên địch đẩy mạnh các hoạt động tiến công cấp đại đội, tiểu đoàn nhằm vào các đồn biên phòng và các xã biên giới: Ngày 5/3 tiến công đồn Lũng Làn và điểm cao 1379 Phìn Lò (Mèo Vạc), ngày 6 và 7/3 đánh Bản Păng, Bản Máy (Xín Mần); ngày 8 và 9/3 đánh Phó Bảng (Đồng Văn); ngày 11/3 tiến công khu vực Lao Chải (Vị Xuyên); ngày 13/3 tiến công điểm tựa của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 122… đều bị đẩy lui.
Đến ngày 14/3 chiến sự tạm dừng. Trong đợt chiến đấu này lực lượng vũ trang Hà Tuyên đã tham gia chiến đấu 61 trận, có 1 cá nhân và 1 đơn vị công an biên phòng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.
Theo công bố chính thức, trên cả ba mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên, các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến 14.000 quân Trung Quốc (trong đó Hà Tuyên tiêu diệt khoảng 1.000 địch), đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch, phá hủy 4 xe tăng và 6 xe quân sự.
TRƯỜNG SƠN(infonet.vn)

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

ĐẢNG DẪN DẮT DÂN TỘC VIỆT NAM ĐI CHỆCH HƯỚNG (PHẦN III)

Phát biểu của GS Trần Phương cựu Phó Thủ tướng Chính phủ, cựu Bộ trưởng Bộ Nội Thương (1981-1982), cựu ủy viên Trung ương Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tại hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội 11

CHÚNG TA TỰ LỪA DỐI CHÚNG TA VÀ CHÚNG TA LỪA DỐI NGƯỜI KHÁC

“Tôi thì xin có một ý kiến nhỏ thôi: Lúc nãy các anh nói là cái tư tưởng ở trong đảng ta đó nó không có rõ ràng. Tôi thực tình mà nói rằng nó có nguyên nhân để nó không rõ ràng đấy. Ta nên nhớ rằng cái đảng ta đó, bước vào thời kỳ xây dựng đó là trong điều kiện mà quốc tế cộng sản đã có những nghị quyết về đường lối CNXH rất rõ ràng rồi. Tôi nhắc các đồng chí nhớ là năm 1957 tất cả các ĐCS họp lại với nhau ra một nghị quyết là “quy luật tiến lên CNXH là gì?”. Là chuyên chính vô sản này, là chế độ công hữu chiếm địa vị chi phối này, là hợp tác hoá nông nghiệp này, là phát triển kinh tế một cách có kế hoạch này. Tất cả những điều đó rút ra kết luận từ kinh nghiệm của Liên Xô, từ mô hình Xô Viết mà người ta gọi là mô hình Stalinist đấy, đấy là năm 57. Tất cả các ĐCS và công nhân đã ra một nghị quyết đó. Đến năm 1960, cũng một nghị quyết y hệt như thế khẳng định lại tất cả những điều đó là quy luật và dựa vào những kết luận đó, người ta đã khai trừ Nam Tư ra khỏi cái hệ thống XHCN. Nên nhớ đây là một hệ thống tư tưởng của một thời đại.

Cho nên có khi cái hôm mà có đồng chí hỏi tôi là về đồng chí Lê Duẩn, người ta nói là tại sao anh ca tụng anh Lê Duẩn là một người biết nghe như thế mà anh ấy không đổi mới được? Tôi trả lời thế này: anh Lê Duẩn tuy cũng là một người rất là tỉnh táo đấy, nhưng ông ấy cũng nằm trong một hệ thống tư tưởng mà ông không thoát ra được. Ông không thoát ra được, bởi vì thế này, chính ông Lê Duẩn đi họp cái hội nghị 57, hội nghị 60. Ông ấy là những người thiết kế ra cái hệ tư tưởng của cả cái hệ thống XHCN thế giới này. Nó đấy! Cho nên tôi nói thật với các anh đó, khi năm 86 chúng ta đổi mới, thì ông mới chịu cái sức ép của thực tế là ông không thể nào không theo cơ chế thị trường được. Ông phải chịu, nhưng ông chưa kiểm điểm cái tư tưởng của ông đâu.

À, cả một hệ thống tư tưởng bao trùm tất cả những người cộng sản ở cái nước này vẫn như cũ. Vẫn như cũ! Cho nên anh cứ tưởng là đổi mới, anh đã đổi mới được đâu? Cho nên các anh có nói là cái Cương lĩnh năm 91, tôi xin lỗi anh, Cương lĩnh năm 91 y hệt cái hệ thống tư tưởng của cái hệ thống Xô Viết. Có khác gì? Anh phải xem lại 6 điểm mà cái Cương lĩnh 91 ghi, cũng chuyên chính vô sản, cũng công hữu, cũng phát triển có kế hoạch v.v…

Cho nên vì cái người Việt Nam đó, ông không tự kiểm điểm, cho nên cho đến bây giờ cái tư tưởng của ông đó ông vẫn giữ những cái cũ. Tôi xin lỗi anh, khi tôi đọc cái bản mà anh Đỗ Mười viết cách đây mấy tháng đó, rồi anh Lê Khả Phiêu cũng viết luôn nữa, tôi bảo là mấy cái ông này đầu óc cũ quá đi, chết mất thôi. Bởi vì ông có kiểm điểm gì đâu? Ông có tiếp nhận cái tư tưởng như thế nào? Cách đây mấy chục năm thì bây giờ ông vẫn y như thế!

Cho nên rằng tôi nghi ngờ là tôi nói ví dụ như gọi là ban lý luận, Hội đồng lý luận Trung ương. Tôi bảo là mấy chú đó có kiểm điểm mẹ gì đâu, mấy chú là giữ nguyên như cũ, rồi vì ba cái thằng già này rút lui hết rồi thì người ta cử mấy chú vào ngồi đấy, trong đó có Lê Huy Hứa (Tô Huy Rứa), Lê gì gì đấy. Thì tôi xin lỗi, những chú đó đọc bao nhiêu sách của Mác và Lênin? Có lúc nào mà ngồi nghĩ rằng cái tư tưởng nào của Mác là đúng, tư tưởng nào của Mác dự báo, là sai? Chưa bao giờ người ta ngồi nghĩ!

Hôm nay anh Đào Công Tiến bảo là tư tưởng của Mác có cái sai, có cái đúng. Quá đúng rồi! Tất cả những dự báo của Mác về CNXH và về Chủ nghĩa Cộng sản, tôi xin lỗi, tôi nói thẳng là sai. Mà đấy là ông ấy dự báo thôi, tức là ông ấy dự báo dựa trên cái như Lenin nói, tức là ông nghiên cứu cái quy luật của một sinh vật. Rồi từ cái quá khứ của sinh vật đó mà ông ấy nghĩ rằng cái sinh vật đó sẽ phải tiến triển theo cái hướng như thế nào, đấy là dự đoán thôi!

Cái sai của những người cộng sản là ông dựng cái đó thành nguyên lý, ông dựng cái đó thành giáo điều, mà ông giữ chết những cái giáo điều đó thôi. Nhưng tôi xin lỗi, gần như tất cả các nhà lý luận của chúng ta kể cả những người mà hiện nay cầm quyền họ chưa bao giờ có dịp mà ngồi lại kiểm điểm xem là cái gì là đúng, cái gì là sai?! Cho nên tôi nghĩ là lúc nào cũng tụng là ‘nền tảng của chúng ta là chủ nghĩa Mác – Lenin’. Tôi xin lỗi, Lenin có nhiều điều sai. Tôi nói thế này, Lenin nói về hai sách lược là sai: ông nói là cách mạng dân chủ xong phải tiến lên luôn cách mạng XHCN. Không đúng! Chúng ta làm cách mạng dân tộc dân chủ rồi, tôi xin lỗi, phải 100 năm nữa chúng ta mới nghĩ đến được CNXH. Trên 100 năm nữa mà ông nói là ông làm luôn cách mạng XHCN à?

Chính vì chúng ta theo tư tưởng của Lenin là sau cách mạng dân tộc dân chủ thì ta làm luôn cách mạng XHCN. Cho nên chúng ta mới ngã bổ chửng ra. Chúng ta phá hết cả kinh tế tiểu nông, vừa mới chia ruộng cho người ta rồi thì lại bảo là các chú góp ruộng lại, đưa cái hợp tác xã cấp cao tức là…

Cho nên những tư tưởng lý luận, kể cả của Lenin và một số cái của Mác nữa, là sai, mà người Việt Nam chưa lúc nào ngồi tự kiểm điểm cả. Có đúng không? Thực ra mà nói đó, hôm nay chúng ta mới có dịp nói với nhau, công khai tôi cũng chẳng nói bởi vì tôi nói rằng nói cho họ nghe để làm gì, tranh luận mất thì giờ, để thì giờ ta đi dạy trẻ con.

Nhưng mà hôm nay, nói ra để nói rõ rằng, chúng ta có rất nhiều cái mơ hồ, và chính vì cái mơ hồ trong tư tưởng đó cho nên cương lĩnh đầy rẫy những cái sai. Ông nói CNXH mà ông không hiểu nó là cái gì cả. Ông nói định hướng XHCN mà ông không biết cái định hướng nó là cái gì. Ông nói là nền dân chủ XHCN mà ông cóc hiểu dân chủ XHCN khác cái dân chủ tư sản là cái gì! Trong khi đó ông mời hết các cái thằng luật gia của CNTB nó đến nó dạy ông. Nhiều chuyện!

Tôi nói thật là chúng ta tự lừa dối chúng ta, thực ra là phải nói như thế. Và chúng ta tự lừa dối chúng ta và đồng thời chúng ta lừa dối người khác. Tôi nghĩ là cái tệ hại đó phải chấm dứt, phải sửa. Nhưng mà ai sửa? Những người cầm quyền bây giờ họ chẳng có thì giờ mà họ nghĩ đến chuyện đó đâu. Họ cứ miễn là một nhiệm kỳ này họ cứ ngồi đấy, còn nhiệm kỳ sau thì họ về hưu rồi. Tuỳ, thằng nào tiếp tục thì tiếp tục. Cho nên tôi nghĩ rằng đấy là lời bình luận của mình thôi.

Bây giờ không biết là, bốn giờ rưỡi rồi, không biết là có được xin phép mấy câu kết luận không? Tôi thì xin thưa với các đồng chí như lúc đầu tôi nói đó, là người ta cả một cái đảng, cả một cái nước, 5 năm người ta mới có một lần thảo luận về đường hướng của đất nước, người ta mở rộng dân chủ thì không biết hình thức hay là thực chất thì không cần, nhưng miễn là người ta mở rộng dân chủ. Thế thì không lẽ các nhà Kinh tế học, những nhà lý luận có thể nói là rất… của lớp trí thức chứ không phải lớp trí thức bình thường đâu, thế các ông không thảo luận à? Ông không phát huy ý kiến à? Cho nên chúng tôi mới bàn với nhau là thế nào chúng ta cũng nên có một cuộc thảo luận.

Thế nhưng mà có nhằm để sửa như anh Hồ nói không, tôi thực tình là không nghĩ như thế. Tôi chỉ nghĩ là những ý kiến của chúng ta đúng và sai thì tùy, bởi vì không ai phán xét chúng ta. Ông có quyền nói cái ý nghĩ của ông. Hai ý nghĩa, thứ nhất là chúng ta chuyển cho cái Ban Văn kiện, Ban Văn kiện thôi chứ mấy cái ông đứng đầu Ban Văn kiện tức là Bộ Chính trị đó, (mấy) ông ấy làm gì có thì giờ ông ấy đọc, có phải không? Anh biết thừa là họ chẳng có thì giờ đọc. Thế thì cuối cùng là một cái lớp bồi bút, như tôi đã từng làm một bồi bút, rồi đến lượt ông Hồ làm bồi bút thì ông có đọc thì đọc thôi. Và nếu có chen được vào một vài ý mà như ông Hồ đề nghị thì cứ việc. Còn nếu không chen được thì… Đó là ý thứ nhất, mục đích thứ nhất.

Nhưng mục đích thứ hai là gì? Ít ra cũng ghi vào văn bản và lưu ở cái Hội Khoa học Kinh tế này, hoặc ở đâu đó là: cái năm 2010 này đó, đã có một số nhà trí thức góp những ý kiến đó. Vậy thôi. Có thể mười năm sau người ta bảo ừ rất tiếc cái đám trí thức đó có nhiều cái ý đúng mà người ta không tiếp nhận. Vậy thôi! Đó là chuyện của lịch sử, nhưng ít ra để nói rằng, cái giới trí thức của nước này cũng không ngu đến mức nó tự lừa dối nó đâu. Có phải không ạ? Chứ còn hy vọng rằng người ta nghe như giới trí thức này và nhiều trí thức khác, nếu ông hy vọng như thế thì ông hơi ảo tưởng đấy.

Tôi nghĩ rằng nếu ta làm được cái điều mà như chúng ta vừa nói cũng đã tốt rồi. Ít ra chúng ta chứng tỏ với xã hội rằng chúng ta có trách nhiệm đối với xã hội. Khi người ta yêu cầu mình góp ý kiến, mình sẵn sàng nói, nói thẳng cái ý kiến của mình dù có thể đó là sai. Đó là được, tôi nghĩ là nếu chúng ta đạt cái điều này thì cũng tự an ủi mình là mình không phí thì giờ. Có phải như vậy không?”

ĐẢNG DẪN DẮT DÂN TỘC VIỆT NAM ĐI CHỆCH HƯỚNG (PHẦN II)

Phát biểu của GS Trần Phương cựu Phó Thủ tướng Chính phủ, cựu Bộ trưởng Bộ Nội Thương (1981-1982), cựu ủy viên Trung ương Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tại hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội 11

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THẤT BẠI. CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN LÀ ẢO TƯỞNG

Tôi thì nói thật là tất cả những điều tôi nói, là để muốn nói rằng ông đưa ra một cái cương lĩnh, cương lĩnh tức là cái đảng này nó phải tiến lên tới đâu, nó đi theo con đường nào? Thế nhưng mà cương lĩnh của ông đó, ông nói chủ nghĩa Mác – Lenin, thì chủ nghĩa Mác – Lenin, tôi đồng ý với anh Tiến (Đào Công Tiến), có điều đúng và có điều sai rồi. Nhất là những dự đoán của Mác và Lenin nữa về cái gọi là CNXH sai rồi, mà rõ ràng là thực thi 70 năm đã thất bại rồi!
Thất bại thì rõ ràng rồi, ông nói là chế độ công hữu thì chế độ công hữu làm mất động lực của xã hội, ông phải trở lại chế độ tư hữu đấy. Ông nói là chuyên chính vô sản thì ông phải trở lại chế độ dân chủ đấy. Ông nói là phải kế hoạch hóa tập trung cuối cùng ông phải trở lại kinh tế thị trường đấy. Rõ ràng là một sự thất bại rõ ràng rồi. Thế bây giờ ông nói cái gì đây? Cho nên là ông nói chủ nghĩa Mác – Lenin là nền tảng tư tưởng của đảng ta, thì tôi không hiểu các vị xác định là nền tảng tư tưởng, cái gì là nền tảng, còn cái gì không là nền tảng chứ?
Tôi nói ngay như là cái dự đoán của ông Mác về Chủ nghĩa Cộng sản thôi, tôi nghĩ là có thể 100 năm trước đây thì ông nghĩ thế có thể được, có thể được, nhưng bây giờ thì ông không thể nghĩ thế được rồi. Bây giờ cả cái trái đất nó mới có sáu tỷ rưỡi người mà đến nước sạch cũng thiếu rồi đây này, chứ ông đừng nói đến năng lượng nữa, nước sạch cũng thiếu rồi đây này. Thế làm sao mà ông sống, Chủ nghĩa Cộng sản theo kiểu như mô tả là ‘làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu’ được? Bất lực hoàn toàn. Cho nên ngay cái Chủ nghĩa Cộng sản cũng trở thành ảo tưởng. Bây giờ không thể nghĩ đến đấy được.
Tôi nói là mới đến thế kỷ 21 này thôi, mới có sáu tỷ rưỡi người thôi, mà người ta nói là hết thế kỷ này nó lên mười tỷ người. Mười tỷ người thì đến nước sạch cũng đang thiếu đây này, đánh nhau vì nước sạch đây này. Trung Đông đánh nhau vì nước sạch đây này. Cho nên, cái gọi là Chủ nghĩa Cộng sản cũng là ảo tưởng, cái gọi là CNXH thực chất cũng thất bại rồi. Cho nên tôi nói là, đương nhiên là chúng ta không thể chấp nhận rằng chúng ta tiến lên CNTB được. À, nó mới khổ thế, nhưng mà không tiến lên CNTB, thì ông tiến lên cái xã hội gì đây? Là ông chưa nghĩ ra.
Thực tình mà nói, tất cả những nhà lý luận ngồi đây các đồng chí đều đã đọc sách rất nhiều rồi. Ông nào vẽ ra được một cái CNXH cho cái dân tộc này, thì ông đó là ông thánh rồi đấy, ông thánh Mác rồi. Chưa, chưa có vị nào làm được đâu!
Khi tôi phát biểu với anh Phạm Văn Đồng và anh Đỗ Mười tôi bảo là cuối thế kỷ này con cháu chúng ta mới nghĩ đến CNXH được. Mới nghĩ đến thôi, chứ còn đã biết CNXH là cái khỉ gió gì mà nghĩ? Nhưng phải đến gần đấy thì mới nghĩ, chứ còn bây giờ thì chúng ta nghĩ cái gì? Cuối cùng ông đã thực thi CNXH thất bại rồi, không có động lực rồi, ông đã trở lại kinh tế nhiều thành phần, ông trở lại kinh tế thị trường, ông trở lại nền dân chủ. Thế bây giờ đó, ông mà cứ nói chuyên chính vô sản người ta chán ông lắm đấy. Có phải không?
Cho nên, tôi nghĩ rằng cái cương lĩnh của ta viết đây không có sức thuyết phục. Còn viết lại như thế nào thì thực ra mà nói mình cũng không viết lại được, mình có thì giờ đâu mà viết lại và những người mà người ta viết ra rồi cũng chả viết lại. Thế thì cuối cùng để làm gì đây? Tôi lắm lúc tôi nghĩ rằng: thôi được, cứ tung ra cho vui vậy thôi chứ chả ai tranh luận. Giỏi lắm là mấy cái thằng lý luận này ngồi đây mà tranh luận, nhưng cuối cùng thì ông cũng không làm gì cả đâu, vì cái người viết lại họ cũng không chịu viết lại và họ cũng không biết viết lại theo cách nào? Nhưng chả lẽ một đảng lại không có cương lĩnh à? À, mới chết ở chỗ đó đó!
Ngay Đại hội X, tôi đã phát biểu thẳng với các anh lãnh đạo rồi, tôi nói là định hướng XHCN là cái gì, các ông phải ghi ra. CNXH mà chúng ta tiến tới là cái gì, các ông phải ghi ra. Nhưng mà một câu thách đố đơn giản vậy mà họ không làm nổi đâu.
Hồi đó, Lưu Bích Hồ còn ngồi trong cái Ban Dự thảo Văn kiện đấy, tôi nói thật là ngay cả anh Lưu Bích Hồ cũng không viết nổi. Tôi đánh đố thế thôi chứ tôi biết rằng là ông không làm nổi. Đấy là nói về cương lĩnh, lúc đó tôi nói như thế. Mục đích tôi chỉ muốn nói rằng là ông viết cương lĩnh mà không rõ ràng, thế thôi, còn chê cái gì thì bảo rằng là mình xây dựng được hay không thì mình có thì giờ đâu, có ăn cơm suốt ngày để mà nghĩ về việc này đâu.
Việc thứ hai là về chiến lược, tôi thì không nói nhiều nhưng tôi xin đề nghị một số điểm thế này. Tôi cảm thấy chiến lược có nhiều điều không rõ ràng. Đối với nước ta thì nông dân bây giờ chiếm 70% dân số mà nếu ông có bớt đi nữa thì cũng còn 50% dân số. Cho nên tôi cho rằng cái việc đầu tư cho nông nghiệp 30 năm nay quá thấp. Đảng ta, Đại hội V mà tôi đã dự đó cũng là người viết văn kiện đó, thì chúng tôi khẳng định rằng phải đầu tư tốt hơn cho nông nghiệp.
Nhưng mà 30 năm nay, chúng ta đầu tư được gì cho nông nghiệp? Không được bao nhiêu đâu. Không được bao nhiêu bởi vì tôi nói ví dụ như là đê, đập không tốt. Đê có tốt đâu, mà nay mai nước nó dâng lên thì đê của ông có là cái gì đâu. Đập nước, một cái nước mà núi cao, đồng bằng thì hẹp, mưa một cái là nó trôi tuột ra biển. Thế ông không có những cái đập, không có những cái hồ làm sao ông giữ được nước. Cho nên một cái nước như thế này phải biết giữ nước ngọt lại mà dùng, phải có hệ thống thủy nông, phải đầu tư vào khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất.
Sắp tới đây, chúng ta sẽ có 100 triệu dân, ông nuôi sống 100 triệu dân đấy thế nào? Hiện nay thì có đồn rằng ông nuôi sống 100 triệu dân có vẻ thoải mái bởi vì ông nghĩ rằng là ông xuất khẩu được, 6 triệu tấn gạo cơ mà. Nhưng xin lỗi, trong khi đó ông lại nhập trên 1 triệu tấn thức ăn gia súc để ông có thịt ông ăn. À, cho nên đó, không phải là ông dồi dào đâu. Tôi nghĩ rằng phải nghĩ nhiều về nông nghiệp nữa, đặc biệt là cái nền nông nghiệp của anh manh mún như thế này. Anh phải tác động thế nào chứ? Ông phải tạo thành như thế nào chứ?
Tôi nói thằng Thailand, nó cũng sản xuất tiểu nông như ông, nhưng nó có hệ thống kho rất tốt để mà xuất khẩu còn ông thì không có. Cho nên tôi nói là rất nhiều chuyện về nông nghiệp ông chưa làm tốt, mà đấy là cái nguồn sống của 100 triệu dân. Tôi cho rằng cái đảng này và cái nhà nước này muốn ổn định xã hội phải lo đến nông nghiệp và nông dân. Ba mươi năm qua tôi chê là chúng ta quá tồi.

Cái thời mà tôi làm tài chính thì cóc có tiền. Tôi xin lỗi, lúc đó thì Liên Xô viện trợ với đi vay được hơn 1 tỷ đô la một năm thôi, thế bây giờ ông có mấy tỷ cơ mà. Bây giờ cái ngân sách của ông mỗi năm là ông có mấy tỷ đô la đấy. Cho nên tôi cho là cái nhận xét của tôi là đầu tư bất cập vào nông nghiệp, cần phải sửa trong cái chiến lược mới này, trong cái mười năm tới đây”.

ĐẢNG DẪN DẮT DÂN TỘC VIỆT NAM ĐI CHỆCH HƯỚNG (PHẦN I)

Phát biểu của GS Trần Phương cựu Phó Thủ tướng Chính phủ, cựu Bộ trưởng Bộ Nội Thương (1981-1982), cựu ủy viên Trung ương Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tại hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội 11

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CHỈ ĐỂ BỊP THIÊN HẠ

Sau khi xem qua các bản dự thảo văn kiện ĐH đảng của BCH Trung ương, rất nhiều đảng viên cao cấp đã bày tỏ mối lo ngại khi nhận ra rằng, Đảng CSVN vẫn tiếp tục dẫn dắt cả nước đi lên CNXH.

Tại cuộc hội thảo góp ý cho văn kiện ĐH XI, GS Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ, đã nêu lên những câu hỏi về CNXH như sau: “Bây giờ trong cái cương lĩnh này, ông đều nói chủ nghĩa Mác – Lênin và ông đều nói XHCN.

Nhưng tôi hỏi các anh đây, các anh đây là người đọc sách nhiều nhất. Tôi hỏi ông, CNXH bây giờ là cái gì, tôi đố ông trả lời được đấy.

Cái điều mà ông Mác nói về CNXH là chế độ công hữu chiếm địa vị thống trị, còn ông, thu hẹp cái sở hữu tư nhân đi đến xóa bỏ sở hữu tư nhân và thị trường tự do. Ông làm lộn ngược rồi”.

GS Trần Phương cho rằng, khái niệm CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ. GS nói tiếp: “Thế bây giờ CNXH của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái CNXH mà chúng ta sẽ đi là cái CNXH gì đây?

Có nhiều người bảo rằng, thôi thì ta cứ đành lấy khẩu hiệu ‘dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh’, đó là CNXH. Tôi xin lỗi ông, đấy không phải CNXH!

Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôi hỏi anh, anh đã bằng thằng Thụy Điển và thằng Na Uy chưa? Nó không có xã hội dân chủ, cũng công bằng mà công bằng hơn ông, mà văn minh thì tất nhiên là hơn ông rồi.

Thế thì cái CNXH mà anh bảo rằng là lấy cái khẩu hiệu ‘dân giàu, nước mạnh’ mấy cái câu đó mà thay thế cho CNXH, đấy là CNXH của tớ đấy. Tôi nghĩ không đúng. Ông bịp thiên hạ với cái chữ CNXH của ông!”

GS Trần Phương cho rằng, những người viết “Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã không hiểu hết những điều họ viết. Điều này thật là nguy hiểm bởi đây là cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam trong tương lai.

Ông Trần Phương phát biểu: “Cho nên tôi đề nghị là nếu ông muốn trung thực với ông thì cái cương lĩnh của ông đó thì ông phải xác định cho tôi xem cái định hướng XHCN là cái gì? Mà cái CNXH ông theo đuổi, nó sẽ là cái gì. Chứ bây giờ chính ông cũng bí cơ mà, chính ông cũng bí.

Tôi nói là những người viết cái chiến lược đó, ông định nghĩa cho tôi: cái xã hội XHCN mà ông nói là cái gì đây? Đại để ông nói tôi nghe rõ thế nào là CNXH, theo ông quan niệm?

Còn nếu mà ông nói là “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh” thì xin lỗi ông, bọn tư bản nó đầy. Nó làm như thế cả. Ông làm chả khác gì nó, thậm chí kém hơn nó.

Ngay đại hội X, tôi đã phát biểu thẳng với các anh lãnh đạo rồi. Tôi nói là, định hướng XHCN là cái gì, các ông phải ghi ra. CNXH mà chúng ta tiến tới là cái gì, ông phải ghi ra. Nhưng mà một câu thách đố đơn giản như vậy mà họ không làm nổi”.

"ĐỊNH HƯỚNG XHCN" LÀ GÌ ?

Cũng như khái niệm CNXH, khái niệm “định hướng XHCN” đã gây thắc mắc cho nhiều vị là đảng viên cao cấp.

Trong một bài phát biểu, ông Nông Đức Mạnh cho rằng: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”.

Mặc dù trong các bài phát biểu, lãnh đạo Đảng CSVN đều nói về “định hướng XHCN”, thế nhưng khi được hỏi về khái niệm này, ông Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, trả lời báo Vietnamnet hôm 5 tháng 10 rằng, cho đến nay ông vẫn chưa hiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì.

Có cùng thắc mắc với ông Nguyễn Trung, GS Trần Phương cũng không rõ cái ‘định hướng XHCN’ mà đảng và nhà nước đề ra, đó là cái gì.

GS Trần Phương cho biết: “Đại hội X, tôi đã nói trước Bộ chính trị, tôi nói là các anh định nghĩa cho tôi nghe là cái CNXH mà chúng ta chủ trương đây là cái gì? Cũng không ai trả lời.

Rồi tôi hỏi là ông nói định hướng XHCN, thì cái định hướng đó là cái gì? Tôi xin lỗi các nhà lý luận ngồi đây, là các ông cũng không trả lời được. Có phải không? Ông nói về định hướng XHCN, thì định hướng của ông là cái gì đây, ông nói cho tôi nghe?”

Trong khi các đảng viên cao cấp không hiểu “định hướng XHCN” là gì, thì ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Đảng CSVN giải thích rằng: “Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là: thứ nhất, thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’. Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn”.

GS Trần Phương cho rằng, xóa đói, giảm nghèo không thể là ‘định hướng XHCN’: “Ông bảo là xóa đói giảm nghèo, xin lỗi ông, cả thế giới nó làm. Mà Liên Hiệp Quốc nó đang giúp ông hẳn cái việc ấy đó, thế chả nhẽ nó giúp ông xây dựng XHCN nhà ông đấy à? Xóa đói giảm nghèo, giỏi lắm thì ông nói được cái định hướng XHCN là xóa đói giảm nghèo, nhưng mà ông còn thua xa ba cái thằng tư bản.

Cho nên tôi cảm thấy là, viết thế nào thì tôi chưa nói, nhưng đại để là ông đừng đao to búa lớn quá. Lúc nào cũng là ‘nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin’, lúc nào cũng là ‘định hướng XHCN’ rồi ‘xây dựng CNXH’, và thậm chí bây giờ có chỗ ông còn viết là chúng ta đang ‘quá độ lên CNXH’”.

Cũng như ông Nguyễn Trung và GS Trần Phương, bà Dương Thu Hương, nguyên Phó Thống đốc NHNN VN cũng không biết cái ‘định hướng XHCN’ là gì.

Bà Hương cho biết: “Trong cương lĩnh, viết thì rất hay, nhưng đưa ra rất nhiều khái niệm mà tôi chẳng hiểu được, như khái niệm mà chúng ta vẫn cứ lúng ta lúng túng là ‘một nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN’.

Riêng ngân hàng, không biết ‘kinh tế thị trường có định hướng XHCN’ trong hoạt động ngân hàng, là cái gì?

Ngoài ra lại còn phát triển công nghiệp hiện đại, trở thành một nước công nghiệp hiện đại ‘theo định hướng XHCN’. Không biết công nghiệp hiện đại ‘theo định hướng XHCN’ là cái gì? Thế công nghiệp của XHCN khác với công nghiệp tư bản à? Thế thì tại sao phải có cái đuôi ‘theo định hướng XHCN’?

Thế rồi ‘xây dựng một nền dân chủ XHCN’. Đúng là ngày xưa học về Mác – Lênin có câu ‘dân chủ của CNXH thì dân chủ gấp trăm lần tư bản’. Thế nhưng, tôi thì tôi nghĩ, dân chủ ở đâu cũng giống nhau thôi, là người dân được phép nói, đấy là dân chủ. Xã hội tạo điều kiện cho dân được nói, pháp luật tạo điều kiện cho dân được nói, thì đấy là dân chủ. Xã hội nào cũng thế, lại còn cái dân chủ XHCN nữa.

Cho nên, từ công nghiệp hiện đại, cũng theo định hướng XHCN, phát triển kinh tế thị trường cũng theo XHCN, rồi xây dựng nền dân chủ cũng theo XHCN, thì tôi không hiểu nó là cái gì cả”.

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Communist-party-of-vietnam-leads-the-nation-to-a-wrong-direction-part2-ntran-12182010103752.html





Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 (Wikipedia)
Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người.[77] Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000).[51] Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.[78]
Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp.[73] Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Để nhận được tăng cường viện trợ từ phía Liên Xô, từ 27 tháng 3 năm 1979, Việt Nam quyết định cho tàu quân sự Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh.[56] Về phía Bắc Kinh, cuộc chiến ngắn ngày đã tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ kinh tế.[79]
Quân xâm lược Trung Quốc đã đánh vào thành phố Lào Cai! Đó là 10 giờ 15 phút, ngày 17-2-1979. Cùng lúc đó tiếng đại bác đã rít trên đầu, tiếng xe tăng đã vọng tới và tiếng nổ ầm ầm, sôi lên bốn phía.

Ông cho tôi biết, bọn Trung Quốc bắc cầu phao ở Quang Kim cho xe tăng vượt sông Hồng, chia thành ba mũi, một mũi đánh vào Đông Bắc thị xã, theo đường đi Hà Nội, một mũi đánh vào Bản Chuẩn, Bản Phiệt, một mũi đánh phố Lu, bến Đền…
Người dân thi xã Lào Cai ba mươi năm không nghe tiếng bom đạn, giờ hoảng loạn bỏ lại tất cả của cải, bồng bế nhau sơ tán. Dòng người gồng gánh, nứu kéo nhau, rời khỏi thị xã chạy về Cam Đường. Tiếng kêu la, than khóc tuyệt vọng chìm trong tiếng bom đạn.

Mỗi khi nghe tiếng bom đạn rít, những người cha người mẹ ấn con xuống rãnh nước ở vệ đường, nằm đè lên che chắn cho con. Những bà cụ không theo kịp, chỉ biết nằm úp mặt xuống đường lấy chiếc nón, chiếc khăn che đầu. Người bị thương giãy dụa rên la không kịp băng bó. Xác người chết chồng lên nhau, máu chảy thành suối trên dốc Đỏ , từ cầu số 4 đến Cam Đường.
Tôi không nghĩ là trong cùng một ngày hôm ấy, ngày 17-2-1979, bọn xâm lược Trung Quốc đã cướp mất của tôi một người bạn đồng nghiệp, đồng hương thân thiết và cướp luôn người vợ sắp cưới của tôi! Nhưng đó là sự thật. Khi quân Trung Quốc rút khỏi Lào Cai, tôi mới được tin Xuyến cùng bố mẹ bị bọn lính Trung Quốc giết hại ở cầu Chui ngay trong đêm 17-2. Xuyến vẫn mặc chiếc áo dài màu hoa đào mà Xuyến thường mặc khi lên lớp giảng bài, trên vai vẫn đeo chiếc túi đựng những chiếc thiệp cưới của chúng tôi. Bà con đã trao cho tôi những tấm thiệp mời nhuộm đỏ máu vợ tôi. Tôi cầm những tấm thiệp nhuộm máu Xuyến ấp vào ngực muốn tìm lại hơi ấm của em. Tôi muốn đây chỉ là một cơn ác mộng, cơn ác mộng sẽ tan, ngày chủ nhật chúng tôi sẽ tổ chức đám cưới, tôi sẽ sống bên Xuyến trên thị xã Lào Cai này suốt đời, nhưng cơn ác mộng đến bây giờ vẫn chưa tan, nó đeo đuổi suốt đời tôi!
Người dân Lào Cai gọi bọn lính Trung Quốc là thổ phỉ, gọi cuộc xâm lược chớp nhoáng của chúng là trận “B52 chân đất”. Chúng cướp hết, phá hết, biến thị xã Lào Cai thành một đống gạch vụn. Tại xã Hưng Đạo, trước khi rút, chúng hãm hiếp 10 cô gái trẻ rồi chặt khúc vứt xuống giếng. Cũng tại đây, chúng giết 13 phụ nữ, trong đó 7 chị đang mang thai, và 20 em thiếu nhi.
Bài hát "Chiến đấu vì độc lập tự do" (Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới), Phạm Tuyên

Thị xã Lạng Sơn bị quân xâm lược Trung Quốc tàn phá
Mai Thanh Hải – "GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG" VÀ BÀI VIẾT KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG 
http://maithanhhaiddk.blogspot.no/2012/02/gui-em-o-cuoi-song-hong-va-bai-viet.html
Khi đã "phân loại" hàng trăm lá thư, ông ngỡ ngàng bởi hầu hết bộ đội ta đều quê ở các tỉnh nằm dọc theo bờ sông Hồng (Yên Bái, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam…) và đa số thư đều gửi cho vợ, người yêu ở những địa phương nằm dọc sông Hồng.
Ngỡ ngàng và liên hệ đến tình hình chiến sự đầu thắng 2/1979, cảm nhận cái giá rét – gió mùa Đông Bắc hiện tại, nhớ màu nước sông Hồng quanh năm đỏ rực phù sa và tháng 2 đúng mùa con nước… ông quặn lòng nhớ tới vợ con ở Duy Tiên, Hà Nam cũng chung tâm trạng như hàng vạn, hàng triệu người vợ – người mẹ – người yêu khác, đang mong ngóng, lo lắng tin của chồng, con, người yêu nơi biên g…
Xúc động, Dương Soái ngồi bệt xuống sân ga Phố Lu viết bài thơ "Gửi em ở cuối sông Hồng" chỉ trong đúng 2 tiếng đồng hồ. "Vừa viết, nước mắt tôi vừa chảy ra giàn giụa!" – Ông đỏ hoe mắt và ngước mắt nhìn cây đào núi nở hồng rực ngoài cửa sổ.
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

 Không thể nào quên.

TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG

Duan Dang